Những mẫu bài thu hoạch cảm tình Đảng cập nhật mới nhất 2019

Bài thu hoạch cảm tình Đảng là căn cứ quan trọng để xác nhận bạn đã hoàn thành lớp học. Chỉ khi hoàn thành tốt bài này bạn mới được xét duyệt làm hồ sơ kết nạp Đảng. Và bạn chưa biết viết bài thu hoạch cảm tình Đảng như thế nào, nhất là phần liên hệ bản thân? Hãy tham khảo bài viết của chúng tôi dưới đây để cập nhật những bài mẫu bài thu hoạch cảm tình Đảng tốt nhất đã được chính những người giảng dạy hướng dẫn.

Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập đã thực hiện thành công Cách mạng tháng Tám mang lại hòa bình, độc lập cho dân tộc. Và Đảng ngày nay càng phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của mình. Chính vì thế được đứng vào hàng ngũ của Đảng là một niềm vinh dự của mỗi người. Để làm được điều đó yêu cầu mỗi người cần phải hoàn thành bài thu hoạch cảm tình Đảng một cách tốt nhất. Dưới đây là những mẫu bài thu hoạch cảm tình Đảng mà chúng tôi giới thiệu với bạn.

Bài thu hoạch cảm tình Đảng mẫu 1

Bài thu hoạch cảm tình Đảng câu 1: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của đảng viên như thế nào?

Đảng
Cộng sản Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo
nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các
cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự
nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới,
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.

Đảng
là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

Mục
đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội
công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ
nghĩa cộng sản.

Đảng
lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh
hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế của thời đại và
thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng
đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Đảng
là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ
là nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự
phê bình và phê bình, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đoàn kết trên
cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng.

Đảng
Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn
trọng và phát huy quyền làm chủ, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân
dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách
mạng. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống
ấy. Đảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội; hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật.

Đảng
kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai
cấp công nhân, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới.

Đảng
Cộng sản Việt Nam dược xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức,
thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, đảng viên, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng.

Điều
lệ Đảng Cộng sản Việt Nam là những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, đáp ứng cơ bản yêu cầu, nhiệm vụ của
công tác xây dựng Đảng hiện nay, là cơ sở quan trọng tạo nên sự thống nhất ý
chí và hành động trong toàn Đảng, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của
Đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam là kết tinh của trí tuệ Việt Nam, là văn bản
quy định nguyên tắc của Đảng do những những đảng viên ưu tú đại diện cho nhân
dân Việt Nam soạn thảo và lấy ý kiến rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân.

Điều 1 Chương I Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định về tiêu chuẩn của đảng viên như sau:

1.
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của
giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu
cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của
Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có đạo đức và lối
sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của
Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng.

2.
Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện: thực hiện
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ của đảng viên, hoạt
động trong một tổ chức cơ sở Đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được
nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng.

Điều 2 Chương I Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định về nhiệm vụ của đảng viên như sau:

1.
Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành
nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng,
pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối
sự phân công và điều động của Đảng.

2.
Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác,
phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống
chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham những, lãnh phí và các biện
pháp tiêu cực khác. Chấp hành quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những
điều đảng viên không được làm.

3.
Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân; chăm lo đời sống vật chất tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng của
nhân dân; tích cực tham gia công tác quần chúng, công tác xã hội nơi làm việc
và nơi ở; tuyên truyền vận động gia đình và nhân dân thực hiện đường lối, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

4.
Tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách và tổ chức của Đảng; phục tùng
kỷ luật, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên tự phê bình và
phê bình, trung thực với Đảng; làm công tác phát triển đảng viên; sinh hoạt
đảng và đóng đảng phí đúng quy định.

Điều 3 Chương I Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định về quyền hạn của đảng viên như sau:

1.
Được thông tin và thảo luận vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đương
lối, chủ trương, chính sách của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng.

2.
Ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban
Chấp hành Trung ương.

3.
Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong
phạm vi tổ chức; báo cáo kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu
được trả lời.

4.
Trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành
kỷ luật đối với mình.

Đảng
viên dự bị có các quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ
quan lãnh đạo của Đảng.

Như vậy, các Điều 1, Điều 2, Điều 3 trong Chương I Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định một cách đầy đủ về tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của đảng viên. Mỗi người khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều phải nghiêm túc thực hiện những quy định này về đảng viên để xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch và vững mạnh như lời của Bác Hồ nhận định khi Đảng ta tròn 30 tuổi:

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình.
Đảng ta là đạo đức, là văn minh,
Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no”.

 Bài thu hoạch cảm tình Đảng câu 2: Những nội dung cơ bản về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay?

Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thiên tài của nhân dân ta, là anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới. Suốt cuộc đời, Người hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Ham muốn tột bậc của người thật là giản dị: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Câu ấy được Bác nói khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào đầu năm 1946. Câu nói ấy có ý nghĩa lớn lao trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng đất nước. Câu nói ấy thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc và giá trị đạo đức lớn lao.

Tải về bài thu hoạch cảm tình Đảng mẫu 1

Những mẫu bài thu hoạch cảm tình Đảng cập nhật mới nhất 2019

Bài thu hoạch cảm tình Đảng mẫu 2

Bài thu hoạch cảm tình Đảng câu 1: Đồng chí hãy trình bày 5 bài học lớn của cách mạng Việt nam được nêu trong Cương lĩnh năm 1991. Phân tích bài học mà đồng chí thấy tâm đắc nhất. Ý nghĩa của bài học này đối với công việc của đồng chí?

Trải
dài theo dòng lịch sử của nước nhà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy một điều
rằng cách mạng Việt Nam đã đi hết từ thắng lợi này cho tới thắng lợi khác, dưới
sư lãnh đạo của Đảng, có cương lĩnh, có đường lối soi sáng chỉ đường, tạo ra
những trận đánh lịch sử lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, tạo ra cuộc sống
bình yên, ấm no và hạnh phúc cho toàn thể dân tộc ta và được trường tồn tới
ngày nay và mãi mãi

Nước
đã đang bước vào giai đoạn hồi nhập nhập toàn cầu, cuộc sống ngày càng phát triển
mạnh mẽ, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng lên cao, trước những
xu thế mới đỏi hỏi Đảng ta phải có được cương lĩnh rõ ràng để chỉ lối cho những
bến bờ hành phúc cho nhân dân, cho nhân loại, và cương lĩnh năm 1991 đã cho
chúng ta thấy rõ được những yêu cầu mang tính cần thiết mà chúng ta phải thực
hiện được để tô thêm những trang sử vàng cho sự thành công trong con đường hội
nhập của đất nước.

Vậy
5 bài học lớn của cách mạng Việt Nam được nêu trong cương lĩnh 1991 được thể
hiện như thế nào? chúng ta cũng nhau đi tìm hiểu:

Tổng
kết thực tiễn hơn 60 năm của nước ta, trong đó có 5 năm thực hiện đường lối đổi
mới do Đại hội VI đề ra, từ những kinh nghiệm thành công và cả những kinh
nghiệm chưa thành công, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã nêu
ra được 5 bài học lớn của cách mạng Việt Nam:

Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội.

Đây
là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta, độc lập dân tộc là điều kiện
tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm
vững chắc cho độc lập dân tộc. Hai vấn đề này có quan hệ hữu cơ với nhau. Nắm
vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra sức mạnh to lớn của
dân tộc trong đấu tranh cách mạng, giành thắng lợi.

Hai là, Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân. Để phát huy, nhân lên sức mạnh vĩ đại của nhân dân,
sự lãnh đạo và tòan bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện
vọng chân chính của nhân dân, đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân.

Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đòan
kết, đòan kết toàn Đảng, đòan kết tòan dân, đòan kết dân tộc, đòan kết quốc
tế.Đoàn kết là truyền thống quý báu và là bài học lịch sử lớn, lâu dài của dân
tộc ta đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng thành công, tạo nên
nguồn sức mạnh to lớn để giành thắng lợi.

Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Sức mạnh dân tộc, sức mạnh
trong nước là sức mạnh tổng hợp của nhiều nguồn lực. Sức mạnh thời đại, sức
mạnh quốc tế trước hết là sức mạnh của quy luật và xu thế phát triển không thể
đảo ngược của lịch sử nhân loại.

Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân
tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Giữ vững và tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu bảo đảm thắng lợi của sự
nghiệp cách mạng nước ta. Để làm được điều đó, phải xây dựng Đảng vững mạnh về
chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế, đủ sức giải quyết các vấn đề do
cuộc sống đặt ra.

Thực
chất thì bản thân tôi hoàn toàn tâm đắc tất cả các bài học ở trên, trong tôi
qua mỗi bài học tự rút ra được cho mình những bài học quý báu, những kiến thức
cẩn và đủ để có thể trở thành một đàng viên tốt, hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao, và đóng góp vào sự phát triển chung của Đảng, Nhà nước.

Từ
cái nhìn khách quan và cụ thể nhất tôi cũng đưa ra được cho mình Bài học tâm
đắc nhất đó là ở bài học lớn thứ hai :

“Sự
nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”


thể khẳng định một điều rằng: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân. Để phát huy, nhân lên sức mạnh vĩ đại của nhân dân, sự lãnh đạo
và tòan bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân
chính của nhân dân, đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân

Tám
mươi mốt năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ
Chí Minh sáng lập và rèn luyện, dân tộc ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử
thách, lập nên những kỳ tích vĩ đại trong cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng,
phát triển đất nước, định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thắng
lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa nhân dân thoát khỏi cảnh nô lệ lầm
than, giành độc lập cho đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội.

Thắng
lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã bảo vệ và
phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám 1945, giải phóng miền Bắc, chấm dứt
ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, đưa cách mạng nước ta bước
sang giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục
tiến hành cách mạng giải phóng ở miền Nam.

Trải
qua 21 năm chiến đấu, nhân dân ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược kiểu
mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang 30 năm
chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị
kéo dài hơn một thế kỉ của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta, hoàn thành về
cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, non sông thu về
một mối. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi vĩ đại
nhất trong sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh
đạo, đánh dấu bước ngoặt quyết định cho dân tộc Việt Nam tiến vào kỉ nguyên
mới- kỉ nguyên độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội.

Sau
30 năm chiến tranh giải phóng, cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Đây là một cuộc chiến đấu “khổng lồ” để loại bỏ những gì cũ kỹ lạc hậu,
tạo ra những giá trị “mới mẻ, tốt tươi” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn
mạnh.

Trong
buổi đầu cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ đổi mới, dân
tộc ta phải đối diện với bao thách thức, khó khăn gay gắt cả trong nước và quốc
tế. Đặc biệt vào thập kỉ 90 của thế kỉ XX, trong bối cảnh quốc tế hết sức phức
tạp và tình hình đất nước gặp muôn vàn khó khăn, các thế lực thù địch không
ngừng chống phá, nhưng với bản lĩnh kiên cường của một chính đảng cách mạng và
khoa học, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định mục tiêu mà Đảng, nhân dân đã lựa
chọn, giữ vững vai trò lãnh đạo, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua sóng
gió, tiếp tục tiến lên, tiến hành công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu quan
trọng. Đảng đã đề ra và từng bước bổ sung, hoàn thiện đường lối cách mạng một
cách đúng đắn, sáng tạo, bước đầu hình thành một hệ thống các quan điểm và nguyên
tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù
hợp với thực tế nước ta, kế thừa và phát huy giá trị văn hoá và bản sắc dân
tộc. Đây là kết quả của một quá trình trăn trở, tìm tòi, tổng kết, đổi mới tư
duy lí luận, nhận thức đúng đắn hơn về thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đảng ngày
càng trưởng thành và có thêm kinh nghiệm lãnh đạo nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước trong hoàn cảnh mới.

Xuyên suốt chặng đường hoạt động cách mạng 80 năm qua, trong các Cương lĩnh (từ Cương lĩnh đầu tiên năm 1930 đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, năm 1991), hay trong mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đều thể hiện rất rõ, Đảng ta không có mục đích nào khác là đấu tranh cho tự do độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử. “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước”.

Bài thu hoạch cảm tình Đảng mẫu 2

Những mẫu bài thu hoạch cảm tình Đảng cập nhật mới nhất 2019

Bài thu hoạch cảm tình Đảng mẫu 3

Bài thu hoạch cảm tình Đảng câu 1: Nhận thức về Đảng Cộng sản Việt Nam và nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan,
xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đường
lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Đảng là một tổ
chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên
tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách thương yêu
đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc tự phê bình
và phê bình, đoàn kết trên cơ sở cương lĩnh chính trị và điều lệ Đảng, giữ mối
quan hệ mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và
pháp luật.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, tôn trọng và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân dân
để xây dựng Đảng, đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng
lãnh đạo tôn trọng và phát huy vai trò của nhà nước, mặt trận tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể chính trị xã hội. Đảng kết hợp với chủ nghĩa yêu nước chân
chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, góp phần tích
cực vào sự nghiệp hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế
giới. Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và
tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, Đảng viên, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của
Đảng. Điều lệ Đảng quy định tiêu chuẩn nhiệm vụ và quyền hạn của người Đảng
viên như sau:

1. Về nhiệm vụ của Đảng viên:

Nhiệm vụ Đảng viên được quy định trong điều 2, điều lệ Đảng,
gồm 4 điểm sau:

” 1. Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách
mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị
quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của nhà nước; hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ
được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng.

2. Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến
thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống
lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ quan liêu, tham
nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác.

3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ
quyền lợi chính đáng của nhân dân; tích cực tham gia công tác quần chúng, công
tác xã hội nơi làm việc và nơi ở; tuyên truyền vận động gia đình và nhân dân
thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.

4. Tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách và tổ
chức của Đảng; phục tùng kỷ luật, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng;
thường xuyên tự phê bình và phê bình, trung thực với Đảng; làm công tác phát
triển Đảng viên; sinh hoạt Đảng và đóng Đảng phí đúng quy định”.

Thực hiện các nhiệm vụ trên, mỗi Đảng viên cần nắm vững nội
dung cơ bản sau:

Một là, kiên định với những vấn đề
về quan điểm có tính nguyên tắc của Đảng:

Hai là, mỗi Đảng viên phải hiểu rõ
cơ hội lớn để đất nước phát triển nhanh, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại để vận dụng vào nhiệm vụ của mình. Đồng thời, phải nhận
thức sâu sắc thách thức lớn, các nguy cơ đang đe doạ sự nghiệp cách mạng của
nhân dân ta để tự giác góp phần đẩy lùi, từng bước khắc phục. Mỗi Đảng viên
phải ra sức rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, nêu gương cần, kiệm, liêm,
chính, chí công, vô tư; đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng
phí, quan liêu trong cơ quan của Đảng, nhà nước và các tiêu cực, tệ nạn trong
xã hội; cảnh giác và kiên quyết chống mọi âm mưu và thủ đoạn “diễn biến
hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, trước hết là
trong phạm vi chức trách, nhiệm vụ cụ thể của mỗi người.

Ba là, đất nước ta đã chuyển sang
thời kì phát triển mới với nhiệm vụ trung tâm là xây dựng phát triển kinh tế,
đòi hỏi Đảng viên phải nâng cao trình độ kiến thức và năng lực công tác, phẩm
chất chính trị, đạo đức cách mạng, thực hiện vai trò tiên phong, gương mẫu. Vì
vậy, nhiệm vụ học tập càng trở nên đặc biệt quan trọng. Học tập là nghĩa vụ bắt
buộc đối với mọi Đảng viên. Có nhiều hình thức và phương pháp học tập để nâng
cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn. Tuỳ
theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà tổ chức Đảng và mỗi Đảng viên phải có kế
hoạch, chế độ học tập phù hợp.

Bốn là, có mối quan hệ mật thiết với
quần chúng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Nhân dân lao động
cần có Đảng với tư cách là người lãnh đạo, lãnh tụ chính trị bảo đảm cho cuộc
đấu tranh của nhân dân giành thắng lợi và ngược lại, Đảng cần được nhân dân ủng
hộ, tích cực thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm
quyền, Đảng dễ quan liêu, xa rời nhân dân. Đây là một nguy cơ lớn đối với sự
tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa. Mọi Đảng viên phải thường xuyên liên hệ
mật thiết với quần chúng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân phản ánh với Đảng, đồng thời tích
cực tham gia tuyên truyền vận động nhân dân và gia đình mình thực hiện đường
lối của Đảng, pháp luật của nhà nước.

Năm là, tích cực tham gia xây dựng
và bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng
và nhà nước, chống lại sự phá hoại của kẻ thù. Thực hiện nghiêm túc tự phê bình
và phê bình trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ,
làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Tích cực làm công tác phát triển Đảng
viên mới.

2. Về quyền của Đảng viên:

Điều 3, Điều lệ Đảng quy định Đảng viên có những quyền sau:
– Được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng,
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng. –
Ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của ban
chấp hành trung ương. – Trình bày ý kiến khi tổ chức Đảng nhận xét, quyết định
công tác hoặc thi hành kỷ luật đôi với mình. – Đảng viên dự bị có các quyền
trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng. Các
quyền của Đảng viên nêu trong điều lệ Đảng nhằm bảo đảm cho Đảng viên thực hiện
đầy đủ quyền làm chủ về mặt chính trị tổ chức và sinh hoạt Đảng. Chủ tịch Hồ
Chí Minh khẳng định “khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý,
lúc đó quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do phục tùng chân lý”.

Những quy định về quyền của Đảng viên tạo điều kiện cho Đảng
viên và tổ chức Đảng thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong quá
trình phấn đấu để trở thành Đảng viên, vấn đề xây dựng động cơ vào Đảng đúng
đắn lại được đặt lên hàng đầu và có ý nghĩa quyết định vì: Đảng là một tổ chức
chính trị, đây là một tổ chức luôn luôn vận động và phát triển nên rất cần
những người ưu tú để cho Đảng hoạt động và phát triển bình thường để đáp ứng
nhu cầu cách mạng trong từng thời kỳ. Trong quá tình vận động và phát triển
luôn xuất hiện những phần tử thoái hóa biến chất, cần phải khai trừ ra khỏi
Đảng. Việc khai trừ và kết nạp Đảng viên mới để bổ xung cho Đảng những con
người có phẩm chất năng lực nâng cao bản lĩnh chính trị để phục vụ cho Đảng
giúp Đảng ta lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới hiện nay.

Chính vì vậy mà trong quá trình phấn đấu để trở thành Đảng
viên của Đảng cộng sản Việt Nam thì mỗi người chúng ta phải xác định được động
cơ vào Đảng đúng đắn, tuyệt đối trung thành với điều lệ và cương lĩnh của Đảng.
Có xác định được như vậy thì người Đảng viên mới tận tâm tận lực phục vụ Đảng,
vào Đảng là để chấp nhận gian khổ hi sinh, chấp nhận sự phân công và điều động
của Đảng, hết lòng phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, đất nước lên
trên lợi ích cá nhân, phấn đấu vì lý tưởng cách mạng cao cả, xây dựng đất nước
xã hội chủ nghĩa giàu đẹp và văn minh. Bác Hồ kính yêu đã dạy chúng ta: “Đảng
viên là người đầy tớ của nhân dân.” Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ
dân tộc, nếu vào Đảng mà chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân thì đừng vào. Những người
mà ngay từ khi phấn đấu vào Đảng đã có động cơ không trong sáng thì khi đã đứng
trong hàng ngũ của Đảng chắc chắn sẽ “quay lưng” phản bội lại Đảng khi có cơ
hội. Điều đó là hết sức nguy hiểm cho sự trong sạch, vững mạnh của Đảng.

Thực tế đã có những Đảng viên đã được thử thách qua chiến
đấu rất dũng cảm, rất anh hùng, nhưng trong điều kiện hòa bình, trước sự cám dỗ
của tiền tài, vật chất đã gục ngã, đã bị biến chất, thoái hóa. Cũng có những
Đảng viên sau khi vào Đảng một thời gian dài, nắm trong tay chức quyền thì bắt
đầu mới bộc lộ bản chất cơ hội, bản chất của một con người mang danh Đảng viên
để tiến thân. Những con người đó trước sau gì cũng làm tổn hại đến thanh danh,
uy tín của Đảng, làm hại đến lợi ích của nhân dân, của dân tộc và nguy hiểm hơn
nữa là đến một lúc nào đó, họ sẽ phản bội lại lý tưởng cách mạng của Đảng. “Đảng
viên đi trước, làng nước theo sau”, những việc khó khăn, gian khổ, Đảng viên
phải gương mẫu đi đầu, lo trước nỗi lo thiên hạ, vui sau cái vui thiên hạ. Tất
nhiên, đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ Đảng viên thì cũng có cả quyền lợi.
Nhưng vượt lên trên tất cả cái gọi là quyền lợi ấy phải là đạo đức cách mạng,
là phẩm chất của người Đảng viên tận tụy vì dân. Nếu Đảng viên mà đặt lợi ích
cá nhân, gia đình mình lên trên hết thì người Đảng viên đó không được lòng tin
của nhân dân. Mất lòng tin của dân và xa dời quần chúng nhân dân thì mọi việc
đều thất bại. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng
xong”.

Chính vì vậy, việc xác định động cơ vào Đảng ở mỗi người là
cực kỳ quan trọng. Nếu ngay từ đầu, động cơ vào Đảng không đúng đắn, lệch lạc
và vụ lợi thì không những không làm cho Đảng vững mạnh mà ngược lại mặc dù Đảng
sẽ nhiều Đảng viên, nhưng không có đoàn kết, không hình thành một khối vững
chắc, thậm chí còn tiềm ẩn nguy cơ suy yếu, chia rẽ. Động cơ và mục đích của
quần chúng khi vào Đảng là điều hết sức quan trọng, nhưng đó cũng là điều khó
nắm bắt nhất, bởi nó nằm sâu trong nội tâm mỗi người. Vì vậy, trong công tác
xây dựng Đảng, chúng ta cần tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng một cách có
hệ thống cho các quần chúng ưu tú và cho các Đảng viên mới để mỗi người Đảng
viên và quần chúng tự ý thức, tự trau dồi, tự rèn luyện bản lĩnh chính trị và
tự phấn đấu vươn lên. Vì sự vững mạnh của Đảng, vì lợi ích của nhân dân, của
dân tộc, quần chúng cũng như cán bộ, quần chúng ưu tú và người Đảng viên cần
thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác Hồ về đạo đức cách mạng: “Cần, kiệm, liêm,
chính, chí công, vô tư”.

Trong quá trình phấn đấu vào Đảng, việc xây dựng động cơ vào
Đảng đúng đắn là điều có ý nghĩa quyết định. Đảng chỉ kết nạp những người thực
sự giác ngộ về mục đích, lý tưởng cách mạng, quyết không thu nạp vào hàng ngũ
mình những người mang động cơ thiếu trong sang, lệch lạc; càng không để cho các
phần tử có cơ hội lọt vào Đảng. Để có động cơ vào Đảng đúng đắn cần hiểu sâu
sắc bản chất, mục đích của Đảng, tích cực góp phần thực hiện có hiệu quả mục
tiêu, nhiệm vụ do Đảng đề ra; thường xuyên trau đồi đạo đức cách mạng, đấu
tranh khắc phục mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, vụ lợi, xa lạ
với bản chất của người chiến sĩ cách mạng. Xây dựng động cơ vào Đảng đúng đắn
hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Trong điều kiện hòa bình, Đảng ta cầm quyền và cơ chế kinh
tế thị trường, mỗi người chúng ta nói chung, người Đảng viên nói riêng, luôn
phải đối mặt với biết bao khó khăn, thử thách và những cám dỗ của quyền lực,
tiền tài. Nếu người vào Đảng không có đủ nghị lực và bản lĩnh, sẽ không vượt
qua được những thử thách, không thắng nổi cám dỗ vật chất thì Đảng sẽ xa dời tư
tưởng cộng sản nền tảng, không vượt qua được những thủ đoạn “diễn biến hòa bình”
của các thế lực thù địch. Động cơ và mục đích vào Đảng đúng đắn không phải là
cái cụ thể, không phải là thứ mà chúng ta đem cân đong đo đếm được, mà nó đã
tồn tại trong những người đoàn viên ưu tú, những quần chúng tiến bộ và được bồi
đắp thêm ngay trong quá trình học tập, rèn luyện và phấn đấu vào Đảng của mỗi
quần chúng ưu tú và người Đảng viên Sau khi đã xây dựng cho mình được động cơ
đúng đắn người Đảng viên phải thường xuyên tự rèn luyện và nâng cao bản lĩnh
chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng. Bản lĩnh chính trị thể hiện ở nhận thức
đúng đắn và kiên định mục tiêu, lý tưởng và con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác
Hồ đã lựa chọn; trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào cũng không giao động, giảm
sút niềm tin và ý trí chiến đấu. Đồng thời bản lĩnh đó còn thể hiện ở tinh thần
độc lập, sáng tạo, không thụ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ. Trong điều kiện
hiện nay, khi cách mạng thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, cần đặc biệt nhấn
mạnh đến sự kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, với lợi ích của nhân dân lao
động và của dân tộc. Để có bản lĩnh chính trị vững vàng, người phấn đấu vào
Đảng cần đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, giữ vững niềm tin.

Trước khó khăn thử thách không nao núng tinh thần, không mất
phương hướng chính trị và có thái độ, chính kiến rõ ràng, kiên định. Bản lĩnh
chính trị được hình thành chủ yếu bằng nỗ lực của bản thân trong quá trình học
tập, nắm vững lý luận Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của
Đảng. Tích cực học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, tích lũy kiến thức và kinh
nghiệm, làm giàu vốn hiểu biết của chính mình. Bản lĩnh chính trị còn được rèn
luyện qua các hoạt động thực tiễn, muốn trở thành Đảng viên của Đảng cộng sản
cần thường xuyên tự rèn luyện mình qua thực tế sản xuất, công tác, hoạt động
chính trị – xã hội, chỉ có sự hiểu biết sâu rộng, trải nghiệm qua trường học
đấu tranh thực tiễn, chúng ta mới trở nên vững vàng và kiên định.

Cùng với rèn luyện bản lĩnh chính trị, cần thường xuyên trau
dồi đạo đức cách mạng. Có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách
mạng vẻ vang. Đạo đức cách mạng có nội dung hết sức phong phú, nhưng như lời
bác Hồ dạy: “Nói tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu
tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất”. Trong Đảng ta, có
biết bao nhiêu đồng chí đã vì dân, vì Đảng mà hy sinh oanh liệt, đã nêu gương
chói lọi về đạo đức cách mạng. Ngày nay, đại bộ phận Đảng viên vẫn giữ vững
phẩm chất đạo đức cách mạng, được nhân dân quý mến, tin cậy. Đạo đức cách mạng
là kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện suốt đời, không ngừng nghỉ, như
Bác Hồ đã dạy: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu
tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng
mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Ngày nay đạo đức cách mạng còn là ý trí, quyết tâm và góp
sức đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành quốc gia giàu
mạnh, văn minh, nhân dân làm chủ xã hội và có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc. Không thể có đạo đức cách mạng nếu làm gì cũng tính thiệt hơn với Đảng,
lúc nào cũng đòi hỏi hưởng thụ, muốn lựa chọn theo ý thích và lợi ích cá nhân,
sống cơ hội thực dụng, coi đồng tiền là tất cả, lợi dụng cơ chế, chính sách để
tham nhũng, lãng phí làm giàu phi pháp…. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân
không phải là phủ định vai trò, lợi ích cá nhân, lợi ích cá nhân được tôn trọng
khi nó không trái với lợi ích chung của cộng đồng. Đường lối của Đảng là kết
hợp hài hòa ba lợi ích: lợi ích toàn xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá
nhân, trong đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp. Đảng luôn tôn trọng và
quan tâm đến lợi ích cá nhân, đồng thời kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, ích
kỷ, đặt lợi ích cá nhân mình lên trên, lên trước lợi ích tập thể và toàn xã
hội. Nâng cao năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Đảng viên phải hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao. Phấn đấu trở thành người sản xuất, công tác,
chiến đấu và học tập giỏi. Để xứng đáng với vai trò tiên phong, gương mẫu “Đảng
viên đi trước, làng nước theo sau” như chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

Để trở thành Đảng viên, người đang phấn đấu vào Đảng cần
hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác của mình và nhiệm vụ của tổ chức Đảng, đoàn
thể giao cho, bảo đảm đạt chất lượng, hiệu quả cao. Đó là điều kiện chủ yếu để
quần chúng tin cậy giới thiệu và tổ chức Đảng xem xét kết nạp vào Đảng. Trong
điều kiện hiện nay, ngoài nhiệt tình cách mạng cần đặc biệt coi trọng nâng cao
năng lực trí tuệ và năng lực thực tiễn; không ngừng học tập, thường xuyên tiếp
nhận những hiểu biết mới để đủ kiến thức đáp ứng các yêu cầu do thực tiễn đề
ra. Phải coi trọng việc học tập chính trị cùng với chuyên môn, nghiệp vụ. Đảng
không thể kết nạp những người lười học tập, hoặc học lấy lệ, chỉ cốt lấy bằng
cấp, không thể hiện được tính tiên phong gương mẫu. Để hoàn thành tốt mọi nhiệm
vụ được giao thì người Đảng viên phải thảo mãn được hai điều kiện đó là; Nhiệt
tình cách mạng, có năng lực trí tuệ và thực tiễn nó được tạo nên bởi trình độ
trí tuệ của người Đảng viên. Hai điều kiện này có quan hệ gắn bó mật thiết với
nhau trong quá trình xây dựng động cơ cho mình. Gắn bó với tập thể, với nhân
dân, tích cực tham gia hoạt động đoàn thể, công tác xã hội Một trong những
truyền thống quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự gắn bó mật thiết, máu
thịt với nhân dân. Đảng viên phải giữ vững và phát huy truyền thống đó, trước
hết thể hiện sự gắn bó với quần chúng ở nơi làm việc và nơi cư trú của mình.
Phải hòa mình với quần chúng, tin tưởng, am hiểu và lắng nghe ý kiến của quần
chúng. Thường xuyên chăm lo đời sống, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vận
động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng và chinh sách, pháp luật của nhà
nước.

Muốn trở thành Đảng viên, người phấn đấu vào Đảng phải gắn
bó với tập thể, với nhân dân, với đồng nghiệp, bạn bè trong đơn vị công tác,
với bà con làng xóm, khối phố; tôn trọng, chia sẻ, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau.
Hòa mình với quần chúng nhưng không bị động theo những suy nghĩ và việc làm
tiêu cực, sai trái, mà luôn luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, vận động mọi
người đoàn kết, thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm vụ do Đảng đề ra. Người phấn
đấu vào Đảng phải nhiệt tình tham gia sinh hoạt đoàn thể mà bản thân là thành
viên, góp phần phát huy vai trò của đoàn thể trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Qua hoạt động đoàn thể người
phấn đấu vào Đảng thể hiện rõ vai trò, khả năng lãnh đạo, tập hợp quần chúng,
phát huy tính tiên phong gương mẫu – những phẩm chất cần thiết để trở thành
Đảng viên của Đảng. Ở nơi có tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
người trong độ tuổi Thanh niên muốn vào Đảng nhất thiết phải là Đoàn viên ưu
tú. Người muốn vào Đảng càng phải chú trọng mở rộng quan hệ xã hội và tích cực
tham gia công tác xã hội, gương mẫu vận động gia đình, người thân tham gia các
phong trào, các hoạt động đoàn thể, các hoạt động nhân đạo, từ thiện, phát huy
truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc; chống tệ nạn xã hội, quan liêu, tham
nhũng, tiêu cực, lãng phí. Tích cực tham gia xây dựng Đảng ở cơ sở Để được đứng
trong hàng ngũ của Đảng, người phấn đấu vào Đảng phải tích cực tham gia xây
dựng Đảng. Nhân dân ta gắn bó với Đảng và luôn tham gia đóng góp cho Đảng. Vì
vậy, tham gia xây dựng tổ chức Đảng ở cơ sỏ trong sạch, vững mạnh là trách
nhiệm của người phấn đấu vào Đảng.

3. Nội dung tham gia xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của người phấn đấu vào Đảng.

Bằng sự hiểu biết và kinh nghiệm thực tế của mình quan tâm
đóng góp ý kiến với chi bộ, Đảng bộ trong việc lãnh đạo cơ quan, đơn vị chấp
hành tốt đường lối của Đảng, pháp luật chính sách của nhà nước phát triển và
nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện đời sống cho nhân dân, động viên nhân dân
làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước. Tham gia xây dựng Đảng ở cơ sở còn bao gồm các
nội dung sau:

+ Tích cực hưởng ứng các phong trào, các hoạt động triển
khai thực hiện chủ trương, nhiệm vụ do Đảng bộ, chi bộ đề ra với tinh thần chủ
động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu cao nhất. Góp phần tích cực đưa những chủ
trương, nhiệm vụ đó vào cuộc sống, tạo ra bước phát triển mới của cơ sở, đơn
vị, nhất là về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của
người lao động, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy lùi những biểu hiện
tiêu cực.

+ Chủ động nắm bắt tình hình thực tế, nắm bắt tình hình của
quần chúng nhân dân, kết quả thực hiện chủ trương, chính sách, nghị quyết của
Đảng, kịp thời phản ánh, đề xuất với tổ chức Đảng.

+ Tích cực và mạnh dạn tham gia góp ý kiến đối với sự lãnh
đạo của tổ chức Đảng và đội ngũ Đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ Đảng viên.

+ Tham gia ý kiến khi được hỏi về việc giới thiệu những Đảng
viên ưu tú, đủ tiêu chuẩn để tổ chức Đảng xem xét, bầu vào cấp ủy, giới thiệu
những quần chúng ưu tú có đủ điều kiện để tổ chức Đảng xét kết nạp.

+ Tham gia góp ý kiến đối với hoạt động của chính quyền và
đoàn thể, góp phần xây dựng cơ sở chính trong sạch, vững mạnh.

+ Tích cực và kiên quyết đấu tranh bảo vệ Đảng, giữ vững ổn
định chính trị – xã hội ở cơ sở, đơn vị. Góp phần làm thất bại mọi âm mưu và
thủ đoạn phá hoại của các phần tử xấu, các thế lực thù địch lợi dụng dân chủ để
xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng.

Bài thu hoạch cảm tình Đảng câu 2: Động cơ phấn đấu của đồng chí vào Đảng Cộng sản Việt Nam (nội dung và ý nghĩa của việc học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong quá trình phấn đấu của đồng chí để trở thành Đảng viên).

Nội dung và ý nghĩa của việc học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, đã
hiến dâng tất cả tình cảm, trí tuệ và cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng
và nhân dân ta. Người đã để lại tài sản vô giá là tư tưởng và tấm gương đạo đức
trong sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, của
nhân loại và thời đại. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác là niềm
vinh dự và tự hào đối với mỗi cán bộ, Đảng viên và mỗi người dân Việt Nam. Đối
với mỗi cán bộ, Đảng viên, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là
nhiệm vụ rất quan trọng và thường xuyên, qua đó để giáo dục, rèn luyện mình,
xứng đáng là Đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, là “người lãnh đạo, người
đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

– Một là, thực hiện chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh “Trung với
nước, hiếu với dân” mỗi cán bộ Đảng viên phải trung thành vô hạn với mục tiêu
lý tưởng của Đảng, của dân tộc, cần quán triệt những nội dung của chủ nghĩa yêu
nước trong giai đoạn mới; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh
công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh Tư tưởng và phẩm chất đạo đức tiêu biểu của Hồ Chí Minh là tinh thần
yêu nước nồng nàn, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, toàn
tâm, toàn ý cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một mong muốn, mong muốn tột bậc là
đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hưởng tự do. Từ quyết tâm “ dù
phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được tự do, độc lập”, để
rồi phấn đấu cho “đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học
hành”, để nước ta “ sánh vai với cường quốc năm châu”.

Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh chúng ta cần: Mỗi người
cần nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn những hy sinh to lớn của ông cha để chúng
ta có non sông, Tổ quốc Việt Nam độc lập, tự do, thống nhất trọn vẹn hôm nay.
Nâng cao tinh thần yêu nước, tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc là
lương tâm và trách nhiệm của mỗi người Việt Nam chân chính. Trung với nước ngày
nay là trung thành vô hạn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc
lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nền văn hóa, bảo vệ Đảng, chế độ, nhân dân
và sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích của đất nước.

Trung với nước, hiếu với dân ngày nay là luôn luôn tôn trọng,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân dưới cả ba hình thức: làm chủ đại diện, làm
chủ trực tiếp và tự quản cộng đồng; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, giải
quyết kịp thời những yêu cầu, kiến nghị hợp tình, hợp lý của dân; khắc phục cho
được thói vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ trước những khó khăn, bức xúc… của nhân
dân. Trung với nước, hiếu với dân ngày nay thể hiện ở ý chí vươn lên quyết tâm
vượt qua nghèo nàn, lạc hậu, góp phần dựng xây đất nước phồn vinh, sớm đưa nước
ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, theo kịp trình độ các nước phát triển
trong khu vực và thế giới; thực hiện bằng được mong ước của Bác Hồ kính yêu:
“xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Trung với nước, hiếu với dân
là phải luôn luôn có ý thức giữ gìn đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng,
trong cơ quan, đơn vị; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng trước mọi mưu đồ
của các thế lực thù địch, cơ hội hòng chia rẽ dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn
kết toàn dân, chia rẽ Đảng với nhân dân. Đoàn kết là yêu nước, chia rẽ là làm hại
cho đất nước. Mọi biểu hiện cục bộ, bản vị là trái với tinh thần yêu nước chân
chính. Trung với nước hiếu với dân là phải có tinh thần trách nhiệm cao đối với
công việc, có lương tâm nghề nghiệp trong sáng; quyết tâm phấn đấu để thành đạt
và cống hiến nhiều nhất cho đất nước, cho dân tộc; quyết tâm xây dựng quê hương
giàu đẹp, văn minh. Phải có tinh thần ham học hỏi, phát huy truyền thống hiếu
học và quý trọng nhân tài của ông cha ta; biết vận dụng sáng tạo các tri thức
khoa học, công nghệ hiện đại, các sáng kiến trong sản xuất, công tác, hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Mọi sự bảo thủ, trì trệ, lười học tập, ngại
lao động, đòi hỏi hưởng thụ vượt quá khả năng và kết quả cống hiến là trái
truyền thống đạo lý dân tộc và trái với tư tưởng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Trung với nước, hiếu với dân yêu cầu mỗi chúng ta phải giải quyết đúng
đắn mối quan hệ cá nhân – gia đình – tập thể – xã hội; quan hệ giữa nghĩa vụ và
quyền lợi. Theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu nước là sẵn sàng phấn đấu hy
sinh cho lợi ích chung, việc gì có lợi cho dân, cho nước, cho tập thể thì quyết
chí làm, việc gì có hại thì quyết không làm. Làm việc gì trước hết phải vì tập
thể, vì đất nước, vì nhân dân, phải nêu cao trách nhiệm của người lãnh đạo,
không tham lam, vụ lợi, vun vén cá nhân.

– Hai là, thực hiện đúng lời dạy: “Cần, kiệm, liêm
chính, chí công vô tư ” nêu cao phẩm giá con người Việt Nam trong thời kỳ
mới “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là chuẩn mực đạo đức
truyền thống trong quan hệ “đối với mình”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh
kế thừa, vận dụng và phát triển phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng,
trở thành chuẩn mực cơ bản của đạo đức cách mạng. Người là một tấm gương mẫu
mực về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

Học tập và làm theo tấm gương của Người, thực hiện cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong giai đoạn hiện nay là: Tích cực lao
động, học tập, công tác với tinh thần lao động sáng tạo, có năng suất, chất
lượng, hiệu quả cao; biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể,
của nhân dân; không xa hoa, lãng phí, không phô trương, hình thức; biết sử dụng
lao động, vật tư, tiền vốn của Nhà nước, của tập thể, của chính mình một cách
có hiệu quả. Thực hiện chí công, vô tư là kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân,
lối sống thực dụng.

Đối với cán bộ lãnh đạo, Đảng viên phải loại bỏ thói chạy
theo danh vọng, địa vị, giành giật lợi ích cho mình, lạm dụng quyền hạn, chức
vụ để chiếm đoạt của công, thu vén cho gia đình, cá nhân…, cục bộ, địa phương
chủ nghĩa. Phải thẳng thắn, trung thực, bảo vệ chân lý, bảo vệ đường lối, quan
điểm của Đảng, bảo vệ người tốt; chân thành, khiêm tốn; không chạy theo chủ
nghĩa thành tích, không bao che, giấu giếm khuyết điểm… Thực hiện cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư phải kiên quyết chống bệnh lười biếng, lối sống
hưởng thụ, vị kỷ, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, miệng nói lời
cao đạo nhưng tư tưởng, tình cảm và việc làm thì mang nặng đầu óc cá nhân, tư
lợi, việc gì có lợi cho mình thì “hăng hái”, tranh thủ kiếm lợi, việc
gì không “kiếm chác” được cho riêng mình thì thờ ơ, lãnh đạm. Không
làm dối, làm ẩu, bòn rút của công, ăn bớt vật tư, tiền của của Nhà nước và của
nhân dân. Phải có thái độ rõ rệt lên án và kiên quyết đấu tranh chống tham
nhũng, tiêu cực, loại trừ mọi biểu hiện vô liêm, bất chính ra khỏi đời sống xã
hội.

– Ba là, nâng cao ý thức dân chủ và kỷ luật, gắn bó với nhân
dân, vì nhân dân phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao dân chủ và kỷ
luật và chính Người là một mẫu mực về tinh thần dân chủ, tôn trọng tập thể, tôn
trọng quần chúng nhân dân, luôn luôn quan tâm đến mọi người, gắn bó với nhân
dân. Người luôn luôn phê phán “óc lãnh tụ”, phê phán thói “quan
cách mạng”, phê phán những biểu hiện quan liêu, coi thường quần chúng, coi
thường tập thể, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đó là những căn bệnh
khác nhau của chủ nghĩa cá nhân.

Học tập và làm theo Người, mỗi cán bộ, Đảng viên phải đặt
mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc, pháp luật, kỷ
cương. Mọi biểu hiện dân chủ hình thức, lợi dụng dân chủ để “kéo bè, kéo
cánh”, để làm rối loạn kỷ cương, để cầu danh, trục lợi hoặc chuyên quyền,
độc đoán, đứng trên tập thể, đứng trên quần chúng…, làm cho nhân dân bất
bình, cần phải lên án và loại bỏ. Học tập đạo đức Hồ Chí Minh tất cả vì nhân
dân, mỗi cán bộ, Đảng viên, dù ở bất cứ cương vị nào phải gần dân, học dân, có
trách nhiệm với dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn
nghèo đói. Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà còn phải
biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo
nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói nghèo. Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và
nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, Đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng
giúp đỡ cán bộ, Đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai
lầm, khuyết điểm. Học tập đạo đức Hồ Chí Minh phải rất coi trọng tự phê bình và
phê bình.

Người dạy cán bộ, Đảng viên và mọi người chúng ta: không sợ
khuyết điểm, không sợ phê bình, mà chỉ sợ không nhận ra khuyết điểm, sai lầm và
không có quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, sẽ dẫn đến khuyết điểm ngày càng to và
hư hỏng. Tự phê bình phải được coi trọng, được đặt lên hàng đầu, theo tư tưởng
Hồ Chí Minh “phải nghiêm khắc với chính mình”. Phê bình phải có mục
đích là xây dựng tổ chức, xây dựng con người, xây dựng đời sống tình cảm và
quan hệ đồng chí, quan hệ xã hội lành mạnh, trong sáng, có lý, có tình. Phải
khắc phục bệnh chuộng hình thức, thích nghe lời khen, (thậm chí xu nịnh), tâng
bốc nhau, không dám nói thẳng, nói thật để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đồng
thời, cần phê phán những biểu hiện xuất phát từ những động cơ cá nhân, vụ lợi
mà “đấu đá”, nhân danh phê bình để đả kích, lôi kéo, chia rẽ, làm rối
nội bộ.

– Bốn là, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
cần phát huy chủ nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, đoàn
kết, hữu nghị giữa các dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa, chủ động, tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình đoàn kết quốc tế bắt
nguồn từ tình yêu thương đối với con người, với nhân loại và đoàn kết toàn nhân
loại vì mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng giai cấp, giải
phóng con người. Người là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp
với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Nhờ đó mà nhân dân thế giới kính yêu Người,
trao tặng Người danh hiệu nhà văn hóa kiệt xuất trên thế giới, anh hùng giải
phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế. Từ chủ nghĩa
quốc tế cao cả, Người đã xây dựng nên tình đoàn kết quốc tế rộng lớn của dân
tộc ta với các dân tộc trên thế giới, góp phần quan trọng vào những thắng lợi
vĩ đại của nhân dân ta và phong trào cách mạng thế giới.

Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, việc mở rộng tình
đoàn kết quốc tế, hợp tác cùng có lợi, chủ động, tích cực hội nhập là một nguồn
lực quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước. Đoàn kết quốc tế trong sáng
là thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa với tinh
thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy với các quốc gia trên thế giới,
phấn đấu vì độc lập, hòa bình, hợp tác và phát triển. Đoàn kết quốc tế theo tư
tưởng Hồ Chí Minh là phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tôn trọng độc lập, chủ
quyền của các nước khác, mở rộng hợp tác cùng có lợi, phấn đấu vì hòa bình,
phát triển, chống chiến tranh, đói nghèo, bất công, cường quyền, áp đặt trong
quan hệ quốc tế. Khép lại những vấn đề của quá khứ, lịch sử, xoá bỏ mặc cảm,
hận thù, nhìn về tương lai, xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc.

Học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh cần nâng cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, kiên quyết đấu
tranh chống tâm lý tự ty, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi; phê phán các biểu hiện
vong bản, vọng ngoại, ảo tưởng trước chủ nghĩa tư bản. Sự nghiệp đổi mới đất
nước đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với sự hình thành và
phát triển những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam, đồng thời
tạo ra những thuận lợi và những thử thách mới đối với mỗi chúng ta trong lĩnh
vực đạo đức.

Hơn lúc nào hết, hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta phải quan
tâm đầy đủ đến vấn đề đạo đức, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện những chuẩn mực
đạo đức đúng đắn, tiến bộ; đẩy mạnh giáo dục, rèn luyện và tăng cường quản lý
đạo đức trong Đảng và trong nhân dân. Kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của
ông cha, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những
biện pháp quan trọng để khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán
bộ, Đảng viên và nhân dân, làm lành mạnh nền đạo đức xã hội, góp phần giữ vững
sự ổn định chính trị, xã hội, tạo động lực cho sự phát triển nhanh, hiệu quả,
bền vững. Vấn đề cơ bản nhất khi thực hiện cuộc vận động là mỗi người chúng ta
phải nhận thức đầy đủ vị trí của vấn đề đạo đức, thường xuyên tự giác, nỗ lực
học tập, rèn luyện, tu dưỡng theo gương Bác Hồ vĩ đại. Đạo đức Hồ Chí Minh là
tấm gương trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm
gương của ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn
để đạt mục đích cách mạng. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương tuyệt đối tin tưởng
vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân
dân. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm lòng của một con người nhân ái, vị tha, khoan
dung, nhân hậu, hết mực vì con người. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương cần,
kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và
đức khiêm tốn phi thường. Đã bao nhiêu năm nay, trong tâm khảm người Việt Nam,
Bác Hồ vĩ đại và gần gũi. Mỗi người cán bộ, Đảng viên, Đoàn viên thanh niên
chúng ta đã lấy tấm gương của Bác để soi, để rèn mình, để cống hiến cho đất
nước và xây dựng cơ quan, đơn vị mình ngày càng tốt hơn.

KẾT LUẬN

Bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế sâu hơn, rộng hơn, chúng ta tiếp thu nền văn minh tiên tiến, nền khoa học công nghệ hiện đại của nhân loại thì việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh càng trở nên hết sức quan trọng. Thế hệ trẻ Việt Nam nói chung và bản thân tôi nói riêng, thấy rất tự hào khi phấn đấu để được đứng vào hàng ngũ của Đảng và thấy rõ đó là một trọng trách, một nhiệm vụ cao cả và cũng đầy vinh quang xong cũng đầy thử thách, Với lòng quyết tâm và bầu nhiệt huyết của mình và mong muốn được đứng vào hàng ngũ của Đảng để đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Chính vì vậy trong quá trình phấn đấu để trở thành Đảng viên tôi đã đề ra cho mình phương hướng rèn luyện, luôn luôn phấn đấu vươn lên về mọi mặt. Tôi tin rằng trong tương lai không xa tôi sẽ vinh dự trở thành một Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, trở thành người chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam.

Bài thu hoạch cảm tình Đảng mẫu 3

Những mẫu bài thu hoạch cảm tình Đảng cập nhật mới nhất 2019

Xem thêm: Bài thu hoạch nghị quyết trung ương 8 khóa 12

Trên đây là những mẫu bài thu hoạch cảm tình Đảng được chúng tôi chọn lọc từ nhiều nguồn. Với sự giúp ích của những tài liệu hỗ trợ này chắc chắn bạn sẽ hoàn thành tốt lớp cảm tình Đảng của mình. Đứng vào hàng ngũ của Đảng vừa là vinh dự nhưng cũng có nhiều nhiệm vụ. Chúc bạn sẽ có những đóng góp, cống hiến cho nước nhà cả ở hiện tại và mai sau.

Cuộc sống - Tags:
Sitemap | Mail